Bỏ qua đến nội dung chính
Trung tâm Tư vấn Pháp luật tỉnh Quảng Trị

Chuyển khoản nhầm, người nhận biết nhưng cố tình không trả có bị xử lý hình sự?

Tư vấn viên pháp luật 3 phút đọc 2 lượt xem

Chuyển khoản nhầm tiền vào tài khoản người khác là sự cố không hiếm gặp trong giao dịch ngân hàng. Đáng chú ý, có trường hợp người nhận biết rõ khoản tiền không thuộc về mình nhưng vẫn cố tình sử dụng hoặc tìm cách chiếm giữ. Vậy nhận tiền chuyển khoản nhầm rồi không trả có phải là hành vi phạm tội hay chỉ là tranh chấp dân sự? Anh Hoàng Kế gửi câu hỏi đến Trung tâm Tư vấn pháp luật tỉnh Quảng Trị để được luật sư giải đáp.

Chuyển khoản nhầm, người nhận biết nhưng cố tình không trả có bị xử lý hình sự?

Nội dung bài viết

Người dân hỏi – anh Hoàng Kế:

Tôi chuyển khoản nhầm 150 triệu đồng vào tài khoản của một người không quen biết. Sau khi phát hiện, tôi đã liên hệ với ngân hàng và đề nghị hỗ trợ thu hồi tiền. Người nhận cũng biết đây là khoản tiền tôi chuyển nhầm nhưng không những không trả mà còn rút tiền và chặn liên lạc. Tôi đã nhiều lần yêu cầu hoàn trả nhưng người này cho rằng “tiền đã vào tài khoản thì thuộc về mình”. Xin hỏi luật sư, người nhận tiền chuyển khoản nhầm rồi cố tình không trả có thể bị xử lý hình sự không? Tôi cần làm gì để lấy lại tiền và bảo vệ quyền lợi của mình?

Luật sư trả lời:

Về nguyên tắc, tiền chuyển nhầm không đương nhiên trở thành tài sản hợp pháp của người nhận. Việc tiền được ghi có vào tài khoản chỉ là sự kiện thực tế của giao dịch thanh toán, không làm phát sinh quyền sở hữu hợp pháp đối với khoản tiền nếu người nhận không có căn cứ pháp luật để sở hữu.

Trong trường hợp người nhận biết rõ khoản tiền được chuyển nhầm nhưng vẫn cố tình chiếm giữ, sử dụng hoặc không trả lại, hành vi có thể được xem xét dưới góc độ tội chiếm giữ trái phép tài sản theo Điều 176 Bộ luật Hình sự, nếu đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 86/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025.

Điểm quan trọng là không phải cứ nhận tiền chuyển nhầm mà không trả ngay thì lập tức bị xử lý hình sự. Cơ quan có thẩm quyền phải xác định người nhận có biết rõ tài sản là của người khác, có điều kiện trả lại nhưng cố tình không trả hay không; đồng thời phải xác định giá trị tài sản và các tình tiết liên quan theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Đặc biệt, trường hợp này cần phân biệt với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Nếu người nhận hoàn toàn không có thủ đoạn gian dối để người khác chuyển tiền mà chỉ sau khi tiền chuyển nhầm mới nảy sinh ý định chiếm giữ thì không nên máy móc quy kết về tội lừa đảo. Việc định tội phải dựa trên đúng hành vi khách quan và ý thức chủ quan của người thực hiện.

Đối với anh Kế, trước hết cần lưu giữ ủy nhiệm chi hoặc chứng từ giao dịch, sao kê ngân hàng, thông tin tài khoản nhận tiền, nội dung trao đổi với người nhận và các tài liệu thể hiện người nhận biết khoản tiền được chuyển nhầm nhưng vẫn từ chối hoàn trả. Đây là những chứng cứ quan trọng để chứng minh nguồn gốc và quyền sở hữu đối với khoản tiền.

Anh Kế cũng có thể làm đơn trình báo hoặc tố giác hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản đến cơ quan có thẩm quyền, kèm theo toàn bộ tài liệu liên quan. Việc tiếp nhận, kiểm tra và xác minh nguồn tin về tội phạm được thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Trong mọi trường hợp, người bị chuyển nhầm tiền cũng không nên tự ý đe dọa, xúc phạm hoặc sử dụng các biện pháp trái pháp luật để lấy lại tài sản. Quyền sở hữu đối với khoản tiền được pháp luật bảo vệ, nhưng việc bảo vệ quyền đó phải được thực hiện bằng đúng trình tự, thủ tục pháp luật.

Từ vụ việc trên có thể thấy, “tiền chuyển nhầm” không phải là “tiền nhặt được” và càng không phải là khoản tiền mà người nhận có thể tùy ý sử dụng. Khi biết rõ tài sản không thuộc về mình mà vẫn cố tình chiếm giữ, người nhận có thể phải đối mặt với trách nhiệm pháp lý, thậm chí trách nhiệm hình sự nếu đủ các điều kiện luật định.

An Bình