Bỏ qua đến nội dung chính
Trung tâm Tư vấn Pháp luật tỉnh Quảng Trị

Cho người khác mượn tài khoản ngân hàng, không trực tiếp lừa đảo có bị xử lý hình sự?

Luật sư tư vấn 4 phút đọc 7 lượt xem

Nhiều người cho rằng cho bạn bè, người quen mượn tài khoản ngân hàng để nhận tiền chỉ là việc “giúp đỡ” thông thường và nếu người khác sử dụng tài khoản vào mục đích phạm pháp thì mình không phải chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc biết rõ mục đích sử dụng tài khoản nhưng vẫn cố tình tạo điều kiện cho hành vi chiếm đoạt có thể làm phát sinh trách nhiệm pháp lý. Anh Nguyễn Văn Minh gửi câu hỏi đến Trung tâm Tư vấn pháp luật tỉnh Quảng Trị để được luật sư giải đáp.

Cho người khác mượn tài khoản ngân hàng, không trực tiếp lừa đảo có bị xử lý hình sự?

Nội dung bài viết

Người dân hỏi – anh Nguyễn Văn Minh:

Tôi có một người quen nhờ cho mượn tài khoản ngân hàng để nhận tiền của khách hàng, nói rằng tài khoản của họ đang gặp trục trặc. Vì tin tưởng nên tôi cung cấp số tài khoản và mã QR để họ sử dụng. Sau đó, tôi mới biết người này dùng tài khoản của tôi để nhận tiền từ nhiều người rồi chuyển tiếp sang các tài khoản khác. Có người nói họ bị người này lừa đảo và tài khoản của tôi được sử dụng để nhận tiền. Tôi không trực tiếp gọi điện, nhắn tin hay đưa ra thông tin gian dối để lừa ai và cũng không biết cụ thể những người chuyển tiền là ai. Xin hỏi luật sư, trong trường hợp này tôi có thể bị xử lý hình sự không? Nếu tôi thực sự không biết mục đích phạm tội thì trách nhiệm được xác định như thế nào?

Luật sư trả lời:

Trước hết, cần khẳng định không phải cứ tài khoản ngân hàng của một người xuất hiện trong dòng tiền của một vụ án là người đứng tên tài khoản đương nhiên phạm tội. Trách nhiệm hình sự phải được xác định dựa trên hành vi cụ thể, lỗi, mục đích và sự tham gia thực tế của từng người.

Theo Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015, đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm; người đồng phạm có thể là người tổ chức, người thực hành, người xúi giục hoặc người giúp sức. Vì vậy, nếu một người biết rõ người khác đang thực hiện hành vi phạm tội nhưng vẫn cố ý cung cấp tài khoản, phương tiện hoặc tạo điều kiện cần thiết để tội phạm được thực hiện, hành vi có thể được xem xét dưới góc độ đồng phạm, tùy từng vụ việc.

Ngược lại, nếu người cho mượn tài khoản thực sự không biết và cũng không có căn cứ để biết tài khoản của mình sẽ được sử dụng vào hoạt động phạm tội thì không thể chỉ căn cứ vào việc “tài khoản nhận tiền” để kết luận họ là đồng phạm. Cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh được yếu tố lỗi và sự cố ý tham gia của người đó.

Điểm đặc biệt quan trọng là phải phân biệt giữa không biết thật sự và biết nhưng cố tình làm ngơ. Nếu một người nhận thấy giao dịch có dấu hiệu bất thường, biết tài khoản được sử dụng để nhận tiền của nhiều người không rõ lý do nhưng vẫn tiếp tục cung cấp, rút tiền hoặc chuyển tiền theo yêu cầu nhằm hưởng lợi, những tình tiết này có thể trở thành căn cứ để cơ quan chức năng đánh giá vai trò và mức độ tham gia.

Trong trường hợp liên quan đến hành vi chiếm đoạt tài sản, tùy phương thức thực hiện mà người trực tiếp phạm tội có thể bị xem xét về các tội danh như lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Điều 175 Bộ luật Hình sự quy định trách nhiệm đối với hành vi lạm dụng sự tin tưởng trong quan hệ hợp đồng để chiếm đoạt tài sản, trong đó có trường hợp vay, mượn, thuê hoặc nhận tài sản bằng hợp đồng rồi thực hiện các hành vi nhằm chiếm đoạt.

Đối với anh Kế, nếu được cơ quan chức năng làm việc, cần trình bày trung thực toàn bộ quá trình cho mượn tài khoản, cung cấp tin nhắn, lịch sử giao dịch, thông tin người nhờ, nội dung trao đổi và chứng cứ chứng minh mình không biết mục đích phạm tội. Tuyệt đối không xóa dữ liệu, thay đổi nội dung trao đổi hoặc thống nhất lời khai với người khác.

Về bản chất, tài khoản ngân hàng là công cụ tài chính gắn với trách nhiệm của chính chủ tài khoản. Vì vậy, việc cho người khác mượn tài khoản không nên được xem là một hành động vô hại. Khi đã biết hoặc có căn cứ rõ ràng về việc tài khoản đang được sử dụng để thực hiện hành vi phạm pháp mà vẫn tiếp tục hỗ trợ, nguy cơ phát sinh trách nhiệm hình sự là vấn đề cần đặc biệt lưu ý.

Thông điệp pháp lý quan trọng: Không trực tiếp lừa đảo không đồng nghĩa chắc chắn không có trách nhiệm hình sự; nhưng cũng không thể chỉ vì đứng tên tài khoản mà mặc nhiên quy kết một người phạm tội. Trách nhiệm phải được xác định trên cơ sở chứng cứ, hành vi thực tế và yếu tố lỗi của từng người.

Thanh Bình